GH CÔNG GIÁO VIỆT NAM KHAI SINH CHỮ QUỐC NGỮ

Đạo Công giáo được rao giảng tại Việt Nam từ bao giờ?
(Trích tài liệu từ cuốn Lịch sử Địa Phận Bùi Chu do Hội Ái Hữu Bùi Chu in tại Hoa Kỳ năm 2000, Chủ biên là Cố Linh Mục Trần Đức Huynh).
Theo sách lịch sử nhà Nguyễn tên là Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, gồm 53 quyển, soạn thảo năm 1856, tại quyển 26 có ghi: “Gia-tô, dã lục, Lê Trung Tông, Nguyên Hòa nguyên niên, tạm nguyệt nhật, Dương nhân I-nê-khu tiềm lai Nam Châm chí Ninh Cường, Quần Anh, Giao Thủy chi Trà Lũ âm dĩ Gia tô đạo truyền giáo”
Dịch nghĩa là: Đạo Gia Tô, theo bút ký của tư nhân đời Lê Trang Tông, tháng 3 năm Nguyên Hòa thứ nhất (1533), có người Tây phương tên I-nê-khu, lẻn vào truyền bá đạo Gia Tôi ở làng Ninh Cương và quần Anh thuộc huyện Nam Châm và làng Trà Lũ thuộc huyện Giao Thủy”
Ba làng này đều thuộc Địa phận Bùi Chu. Phải chăng Bùi Chu là miền đất đón nhận ánh sáng Phúc Âm rất sớm nếu không muốn nói là đầu tiên tại Việt Nam.
Sau đó lần lượt các giáo sĩ người Âu Châu gồm Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Ý và Pháp lần lượt sang Việt Nam truyền đạo Thiên Chúa trong đó phải kể đến cha Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes) Dòng Tên, người Pháp, có công rất lớn trong việc sáng tạo chữ Quốc Ngữ mà chúng ta đang dùng hiện nay. Xin nói cho rõ: cha Đắc Lộ không sáng chế ra chữ quốc ngữ mà ngài là một trong những vị giáo sĩ Âu châu khai sinh chữ quốc ngữ. Vì thế chữ quốc ngữ là công trình tập thể của các giáo sĩ truyền giáo Âu Châu, chứ không phải của cha Đắc Lộ như đã bị ngộ nhận bấy lâu nay.
Chữ Quốc Ngữ là chìa khóa xây dựng nền văn hóa khởi sắc của Công giáo Việt Nam
Không những làm cho nền văn hóa đạo Công giáo phong phú và khởi sắc mà nó còn là chữ đọc và viết cho cả nước Việt Nam sử dụng như là một ngôn ngữ chính trong mọi sinh hoạt văn hóa, thơ cú văn chương, kinh tế, chính trị và xã hội từ hơn một thế kỷ nay.
Trước khi toàn thể dân tộc Việt Nam dùng chữ Quốc Ngữ, giáo hữu Công giáo Việt Nam đã xử dụng chữ này từ mấy trăm năm trước.
Theo bài khảo cứu nhan đề “Thế Kỷ 20: Thế Kỷ Quốc Ngữ” của tác giả Phụng Nghi đăng trong Giai Phẩm Xuân Canh Thìn năm 2000 của Việt Báo Kinh Tế phát hành tại Nam California, vào đầu thế kỷ thứ 17, nhiều giáo sĩ Âu châu (Bồ Đào Nha “Portugal”, Tây Ban Nha “Spanish”, Ý “Italian” và Pháp “France”) đến Việt Nam truyền giáo. Trở ngại lớn nhất và duy nhất là ngôn ngữ. Thời đó, người Việt dùng chữ Hán (còn gọi là chữ Nho) và chữ Nôm. Các giáo sĩ tìm cách vượt qua trở ngại này nếu muốn truyền giáo thành công. Các ngài phải học nói và nghiên cứu âm thanh tiếng Việt. Các ngài tìm cách phiên âm tiếng nói bình dân ra mẫu tự La Tinh (a, b, c, d…). Các nhà truyền giáo tiên khởi đã hết sức vất vả để luyện giọng phát âm sao cho đúng âm tiếng Việt. Các học giả đã phân tích sự ra đời của chữ quốc ngữ ngày nay qua 4 giai đoạn như sau:
Giai đoạn phôi thai:
Năm 1621, hai linh mục Joao Roiz và Gaspar Luis đến Việt Nam giảng đạo, gửi tường trình về nước họ, trong đó xuất hiện một số chữ quốc ngữ viết liền nhau và chưa có dấu. Ví dụ: unsai là “ông sãi”, unnghe là “ông nghè”, bafu là “bà phủ”.
Năm 1631, Linh mục Chintofozo Rossi in một cuốn sách bằng tiếng Ý viết về giáo hội Đàng Trong (miền Nam Việt Nam. Miền Bắc Việt Nam là giáo hội Đàng Ngoài). Sách có nhiều chữ quốc ngữ viết thành câu như Con gnoo muon bau tloan laom Hoa laom chiam, theo chữ Việt bây giờ sẽ là” Con nhỏ muốn vào trong lòng Hoa lang chăng.
Năm 1633, tại Thăng Long, tức Hà Nội ngày nay, Linh mục Gaspar d’Amaral có viết một phúc trình về địa lý, chính trị và về tình hình giáo đoàn ở Đàng Ngoại, trong đó chữ quốc ngữ đã có một số bỏ dấu.

Giai đoạn trưởng thành:
Năm 1644, Linh mục Alexandre de Rhodes (tên tiếng Việt là A-lịch-sơn Đắc Lộ), giáo sĩ Dòng Tên truyền giáo tích cực tại Đàng Ngoài, trong một bản phúc trình, ngài có viết một câu chữ quốc ngữ như sau: Giữ nghĩa cũ đ. Chúa Jesu cho đến het hoy, cho đen blon doi, diễn dịch sang tiếng Việt ngày nay sẽ là: Giữ nghĩa cùng Đức Chúa Giê-su cho đến hết hơi, cho đến trọn đời.
Năm 1651, cuốn “Tự Điển Việt-Bồ-La” (Việt Nam- Bồ Đào Nha- La Tinh) và cuốn giáo lý “Phép Giảng 8 Ngày” bằng hai thứ tiếng Việt và La Tinh, do cha A. De Rhodes biên soạn, in tại La Mã (Roma), được xem là cái mốc quan trọng trên bước đường phát triển chữ quốc ngữ. Nội dung cuốn tự điển trên gồm ba phần:
1. Giải thích về chữ, dấu, các loại từ (danh từ, động từ, tĩnh từ…) và về ngữ pháp. Người ta cho đây là cuốn ngữ pháp đầu giên của ngôn ngữ Việt Nam.
2.Phần chánh là Tự Điển Việt Nam – Bồ Đào Nha và La Tinh
3. Bản chữ La Tinh xếp theo vần ABC.
Giai đoạn chỉnh lý:
Năm 1722, Giám mục Pigneau de Béhaine, tên tiếng Việt là Bá Đa Lộc, ngài cũng được gọi là Evêque d’Adran và Cha Cả, hoàn thành việc soạn thảo cuốn “Tự Điển Annam-La Tinh” với sự cộng tác của một số người Việt. Tự điển gồm chữ La Tinh, chữ Nôm và chữ quốc ngữ, gồm 4843 từ đơn. Chữ quốc ngữ trong tự điển này không còn các chữ kép như bl, de, ge, ml, mt. Thay một số nguyên âm cuối bằng phụ âm như cũ là cùng, trào là trong.
Năm 1838, căn cứ vào “Tự điển Annam-Latin” của Giám mục Bá Đa Lộc, một giám mục thừa sai khác là Taberd hợp tác với một số giáo sĩ và giáo dân Việt Nam soạn 2 cuốn tự điển “Annam-Latinh” và “Latinh-Annam”. Chữ quốc ngữ trong hai tự điển này đã hoàn chỉnh như tiếng Việt ngày nay.
Giai đoạn phát triển:
Năm 1878, thực dân Pháp tại Nam kỳ chính thức ra văn thư công nhận chữ quốc ngữ La Tinh và ấn định kể từ ngày 01-01-1882, chữ quốc ngữ được áp dụng trên các công văn hành chánh và dạy trong các trường học.
Tại Trung kỳ, ông Nguyễn Trường Tộ đề nghị dùng chữ quốc ngữ , nhưng tại triều đình và kinh đô, Hán học vẫn còn thịnh hành nên đề nghị của ông Tộ không được cứu xét.
Đến đầu thế kỷ 20, tại Bắc Kỳ đã nổi lên một tầng lớp học giả bắt đầu dùng chữ quốc ngữ để viết sách báo. Dần dần chữ Hán và chữ Nôm bị bãi bỏ khi các kỳ thi khoa cử Hán học không còn nữa. Tuy nhiên chương trình giáo dục bằng chữ quốc ngữ chưa được phổ biến rộng rại cho toàn dân. Đa số dân nghèo không được đi học. Vì thế một số học giả thời bấy giờ chủ trương nâng cao dân trí, muốn mọi người Việt Nam biết đọc biết viết chữ quốc ngữ. Vì thế họ lập ra các hội truyền báo chữ quốc ngữ tại ba kỳ.
Tóm lại, không có ai là ông tổ sáng lập ra toàn bộ chữ quốc ngữ chúng ta đang dùng. Đầu tiên là công sức phiên âm tiếng Việt của một nhóm giáo sĩ Âu châu. Sau đó, người sau bổ sung, cải tiếng việc làm của người trước. Người có công nhiều nhất không ai khác hơn là giáo sĩ Đắc Lộ, tên Việt của linh mục Alexandre de Rhodes, người Pháp, sanh ngày 15-4-1593. Ông đến Việt Nam năm 1624. Cha Đắc Lộ truyền giáo cả Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài.
Người Công giáo Việt Nam có thể tự hào về các nhà truyền giáo Âu châu, về các anh hùng tử đạo Việt Nam và các tiên hiền của giáo hội Công giáo sơ khai đã sáng chế ra chữ quốc ngữ mà cả nước hiện đang sử dụng. Người có công dùng chữ quốc ngữ trong các sách kinh bổn, sách báo Công giáo là Đức Cha Đa Minh Hồ Ngọc Cẩn, Giám mục tiên khởi của Địa Phận Bùi Chu.
Giám mục Bá Đa Lộc hoàn chỉnh chữ quốc ngữ
(Trích tác phẩm “Thánh Giáo Yếu Lý Quốc Nhữ của Giám Mục Bá Đa Lộc” do La Vang Tùng Thư của Cộng Đồng GS-TS và Liên Đoàn Công Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ xuất bản).
Tên đầy đủ tiếng Pháp của ngài là Pierre Joseph-Georges PIGNEAU de Béhaine, còn gọi là Giám mục d’Adran. Ngài là tác giả hai bộ sách chữ quốc ngữ quan trọng. Bộ thứ nhất là “Thánh Giáo Yếu Lý Quốc Ngữ” chữ quốc ngữ La Tinh được viết tay kèm theo một bản chữ Nôm, in năm 1837. Bộ sách bổn Thánh Giáo Yếu Lý Quốc Ngữ và sau này làm nền tảng cho các Sách Bổn được dùng cho tới giữa thế kỷ 20. Bộ sách thứ hai của Giám mục Bá Đa Lộc là “Tự điển Annam-Latinh” được coi là nên

tảng cho việc hoàn chỉnh chữ quốc ngữ được đọc, viết và nói như ngày nay.
Đức Cha Bá Đa Lộc sanh ngày 02-12-1741 tại thành phố Picardi, nước Pháp. Ngài theo học trường Des Trene-Trois, năm 1765 chịu chức linh mục và gia nhập Hội các linh mục thừa sai và tình nguyện giảng đạo tại Việt Nam vào lục Chúa Võ Vương bắt đạo. Năm 1771, cha Bá Đa Lộc được phong làm Giám mục hiệu tòa Canathe, cai qua địa phận Đàng Trong trụ sở đặt tại Qui Nhơn. Vì các vua quan Việt Nam cấm đạo, giám mục Bá Đa Lộc phải trốn tránh ở các nước lân bang như Cao Miên, Thái Lan, Trung Hoa hoặc Ma Cao.
Đức Cha Bá Đa Lộc ra tay giúp Nguyễn Ánh không phục vương quyền. Năm 1787, Ngài thay mặt Nguyễn Ánh sang Versailles ký hiệp ước với vua Pháp nhưng hiệp ước không thi hành được nên ngài đã tự động thỏa hiệp riêng với một số người Pháp và mua sung đạn mang về giúp vua Gia Long, tức Nguyễn Ánh lúc còn bôn ba trong cuộc tranh giành quyền lực với Tây Sơn.
Giám mục Bá Đa Lộc qua đời năm 1799 tại Bình Định và được vua Gia Long thương tiếc nên di chuyển di hài của Ngài về Gia Đình và chôn cất tại khu Tân Sơn Nhất, Sài gòn ngày. Mộ của ngài được xây cất đẹp đẽ và được người dân gọi là Lăng Cha Cả. Sau khi cộng sản chiếm miền Nam Việt Nam, chúng đã ra lệnh bốc xác ngài và tiêu hủy lăng, lấy đấy xây nhà cửa. Theo bà Maria Vũ Thị Kim Yến, một giáo dân ở xứ đạo gần Lăng Cha Cả cho biết, bà được nghe nói khi mở nắp quan tài, xác Đức Cha Bá Đa Lộc không những còn nguyên không hư nát, mà còn thoảng mùi hương thơm. Giáo dân có mặt rất xúc động, nhỏ lệ khóc ròng.
Xin được trích ra đây Kinh 10 Điều Răn Đức Chúa Trời trong bộ Thánh Giáo Yếu Lý Quốc Ngữ để so sánh với kinh 10 Điều Răn hiện đang được Giáo hội Công giáo đọc vào mỗi ngày Chủ Nhật.
Thập giới đệ thập thiên – Ngày nay là Kinh 10 Điều Răn Đức Chúa Trời.
Hỏi: Phải làm gì cho được rỗi linh hồn?
Thưa: Phải giữ Mười Giới Đức Chúa Trời, cùng Sáu Điều Răn Hội Thánh.
Hỏi: Mười Giới những điều nào?
Thưa: Thứ Nhất là kính trọng một Đức Chúa Trời trên hết mọi sự.
Thứ Hai chớ lấy tên Đức Chúa Trời mà thề dối.
Thứ Ba, giữ ngày Chủ Nhật.
Thứ Bốn, thảo kính cha mẹ.
Thứ Năm, chớ giết người.
Thứ Sáu, chớ tà dâm.
Thứ Bảy, chớ ăn trộm cướp.
Thứ Tám, chớ bỏ vạ cho người.
Thứ Chín, chớ muốn vợ chồng người.
Thứ Mười, chớ tham của người
Lược mười sự răn tóm về hai này mà chớ, trước kính trọng một Đức Chúa Trời trên hết mọi sự, sau lại yêu người như mình ta vậy.
Hai kinh cách nhau gần hai thế kỷ không khác nhau gì mấy, chứng tỏ chữ quốc ngữ đã được Giám mục Bá Đa Lộc hoàn chỉnh một cách văn minh tiến bộ.
Để trả lời câu hỏi, chữ Quốc ngữ có phải là công cụ cho thực dân chiếm Việt Nam làm thuộc địa hay không?
Câu trả lời không có gì là khó. Ngay từ thuở ban đầu, chữ Quốc ngữ được sáng chế ra là để truyền đạo Công giáo cho người Việt Nam được dễ dàng hơn. Đó là mục đích duy nhất của các giáo sĩ Âu Châu. Chữ Quốc ngữ không phải là công cụ của thực dân Pháp dùng để xâm lăng Việt Nam vì chữ Quốc ngữ đã được dùng trước đó cả mấy trăm năm, làm sao có thể lên án nó là công cụ xâm lược của thực dân Pháp.