NƯỚC MỸ THẬT TUYỆT VỜI

Một thoáng suy tư quá khứ
Tôi chịu ảnh hưởng văn hóa Tây từ thuở ấu thơ. Bắt đầu cắp sách đến trường ở Hà Nội, khởi đi là Trường Mai Văn Thưởng ở nhà thờ Hàm Long, rồi đến trường Dũng Lạc cạnh Nhà Thờ Lớn Hà Nội ngày nay. Mặc dù các thày dạy là da vàng mũi tẹt nhưng chịu đậm nét ảnh hường văn hóa Pháp, qua Hội Truyền Giáo Paris gửi các cố Tây sang truyền đạo và đào tạo linh mục cho giáo hội Công Giáo Việt Nam.
Vào Saigon năm 1954 với cuộc di cư vĩ đại trong lịch sử Việt Nam. Đây là một biến cố cho biết ai là quốc gia, ai là cộng sản, ai hữu thần và ai vô thần. Học trung học tại trường Nguyễn Bá Tòng ở Saigon, tôi được hưởng một nền giáo dục khai phóng, nhân bản và đầy màu sắc văn minh đông tây kim cổ. Nhưng tôi bị nhiễm nặng ảnh hưởng văn hóa Âu châu hơn cả, trong đó văn hóa Pháp đậm hơn hết.
Sài Gòn hoa lệ! Phố phường xe chạy như nước áo quần như nêm. Dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa, phim ảnh và sách báo Pháp còn hiện diện khá dày đặc. Trung tâm văn hóa Pháp, các tiệm bán sách tiếng Pháp vẫn được chiếu cố đông đúc. Các rạp chiếu phim Pháp nhiều hơn phim Mỹ. Tiếng Pháp vẫn còn được nói nhiều, học nhiều và đọc nhiều.
Nhưng sang đến thời Đệ Nhị Cộng Hòa, văn hóa Pháp đã phải nhường chỗ cho văn hóa Mỹ, sau khi những người lính GI đổ quân vào miền Nam Việt Nam để ngăn chặn làn sóng xâm lăng của Cộng Sản miền Bắc.
Tiếng Mỹ bắt đầu nghe thấy râm ran ngoài đường phố. Nào là OK Salem. Nào là Number One. Phòng Thông Tin Hoa Kỳ đồ sộ nẳm ở góc đường Lê Lợi và Nguyễn Huệ giới thiệu sách báo Mỹ cho giới thanh thiếu niên Sái Gòn. Các tác phẩm văn chương Mỹ được dịch hàng loạt sang tiếng Việt. Tuần báo ảnh Life của Mỹ thế chỗ cho tờ Paris Match cùng loại của Pháp. Các loại bia rượu thuốc lá, sách báo được bày bán tràn lan phố phường. Nổi tiếng nhất là Playboy. Trong suốt 10 năm, quân đội Hoa Kỳ đã trở thành chỗ dựa vững chắc cho nền an ninh Việt Nam Cộng Hòa. Đó cũng là một trong những nguyên nhân không nhỏ đưa đến sụp đổ của chế độ. Một khi người ta ỷ vào một cái gì đó thì đâm ra không còn nghĩ xa mà chỉ biết hiện tại, không thấy cái hậu quả khốc liệt đổ ập xuống, trở tay không kịp. Đó đúng là cảnh “chưa thấy quan tài chưa đổ lệ” đã đến vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 cho toàn thể dân chúng miền Nam Việt Nam, trong đó giới quân nhân là nạn nhân bất đắc dĩ và khốn nạn nhất.
Sinh ra và lớn lên trong thời “khói lửa chiến chinh”, thanh niên phải lên đường tòng quân. Đó là bổn phận đương nhiên của những người trai yêu nước thương nòi. Và một khi đã bị xô đẩy vào một

tình thế bất khả kháng của bên “thua cuộc,” người lính còn biết làm gì hơn, đành chấp nhận sống hay chết nằm ở trong tay địch nay là kẻ “thắng cuộc.”
Nhưng có một sự thật không thể nói khác đi được là người Miền Nam nói chung và Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa nói riêng, không một lời oán trách nước Mỹ đã bỏ rơi họ vào ngày 30 tháng 4 năm 1975. Chúng tôi vẫn nhìn nước Mỹ như là một nước văn minh, dân chủ; vẫn coi người Mỹ có tinh thần nhân đạo và nghĩa hiệp cao. Nếu có oán trách một điều gì ở Mỹ thì đó chính là Quốc Hội Mỹ đã cúp viện trợ khiến cho miền Nam mất tinh thần đi đến tan rã…
Những ngày tháng trong lao tù Cộng sản, tôi, và nếu được phép xưng là chúng tôi, những sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, vẫn nhìn về nước Mỹ như là một giấc mơ và cầu xin Trời Phật cho còn sống trở về. Và chúng tôi đã không lầm khi cho phép mơ mộng như thế.
Cú chơi đẹp tuyệt vời đầu tiên
Tin tức thăm nuôi cho chúng tôi biết người miền Nam tìm đường vượt biên như bão tố diễn ra hằng đêm trên các bãi biển, sông ngòi. Liên Hiệp Quốc và nước Mỹ đã mở cả một chiến dịch vớt người vượt biển đi từ miền Nam Việt Nam. Các trại tỵ nạn đã mở ra ở Phi Luật Tân, Nam Dương, Thái Lan, Mã lai và Hồng Kông. Mỹ vẫn là nước nhận người tỵ nạn miền Nam nhiều nhất.
Tôi vượt biên 2 lần. May mắn thoát lần thứ hai. Bước ra khỏi phi trường Los Angeles lúc 1 giờ trưa vào một ngày mùa hè nắng vàng chói chang của miền Nam Cali. Trong khi chờ xe van đến đón về Orange County, tôi rình lúc không có ai để ý, đã quỳ xuống hôn lề đường của miền đất tự do, sau 8 năm tù đầy và lạc loài ngay trên chính quê hương mình.
Đối với tôi, cho đến lúc này và cho đến hết đời, miền Nam Việt Nam dưới hai chính thể đệ nhất và đệ nhị Việt Nam Cộng Hòa, vẫn là hình ảnh yêu dấu nhất trong tâm khảm và trong hoài niệm về một quê hương đáng để thương để nhớ. Vì quê hương tự do đã mất, đành phải tìm đường ra đi bất kể sống chết. Tạ ơn Chúa, tôi đã thoát!
Biết rằng, trên đời này không có cái gì tuyệt đối, nhưng tôi vẫn cho rằng tự do trên đất Mỹ là tự do tuyệt đối. Dĩ nhiên tự do tuyệt đối ở Mỹ cũng tương đối thôi vì tấm huy chương nào cũng có hai mặt. Tự do mua súng đã cướp đi hàng trăm mạng người dân mỗi năm. Nhưng trong đường lối hoạch định chính sách và chăm sóc người dân của chính phủ và người dân Mỹ, tôi mạn phép được đánh giá cả tuyệt hảo lẫn tuyệt vời. Vì tuyệt hảo hay tuyệt vời chỉ có một nghĩa duy nhất là tốt hết xảy, còn tuyệt đối có thể là tuyệt đối xấu hay tuyệt đối tốt. Và tôi ví nước Mỹ đã làm những điều tuyệt hảo tuyệt vời là những cú chơi đẹp
Chứng minh cho cú chơi đẹp tuyệt với thứ nhất, tôi muốn nói đến chương trình HO mà chính phủ Mỹ dành cho các sĩ quan đồng đội của tôi được ra đi sau khi ra khỏi tù Việt Cộng.
Sau ngày 30 tháng 4 Đen, nếu ai từng là sĩ quan cấp tướng, cấp tá và cấp úy có chức vụ nguy hiểm theo cái nhìn của VC hay là những công chức dân chính có chức vụ cao cấp, mới thấu hiểu được nỗi lo sợ triền miên về mặt tinh thần của kẻ bại trận. Đau khổ về thể xác như đói khát, bệnh tật, rét buốt, con người có thể chịu đựng được. Nhưng vết thương, vết chém về tinh thần và đày ải của cả bạn lẫn địch đã để lại trong lòng người tù cải tạo VNCH thì đau xót vô cùng. Đã thế, nhìn về tương lại chỉ

thấy tuyệt lộ trong đêm đen. Xin kể một ví dụ điển hình.
Trong trại cải tạo Suối Máu ở Biên Hòa, nơi từng giam giữ tù binh VC. Điều oái oăm ở trại này là chỉ huy trại tù VC Suối Máu là một sĩ quan Quân Cảnh thì sau ngày 30.4, ông lại trở thành tù binh của VC ngay trại này.
Vào năm thứ 4 tù cải tạo, tin đồn trong trại rỉ tai nhau là Phạm Văn Đồng, thủ tướng VC, đã đồng ý cho Mỹ đem phi cơ trực thăng đáp xuống các trại tù cải tạo đển bốc “chúng tôi” sang Thái Lan hay ra Hạm Đội 7. Một số sĩ quan nghe tin này đã tin như Kinh Tin Kính, bật khóc vì xúc động, vội vã sắp xếp đồ đạc gọn gàng chuẩn bị sẵn sàng, một khi nghe tiếng trực thăng nổ vang trên bầu trời trại, là chạy ra xếp hàng đầu. Trong cơn tuyệt vọng, tin đồn cũng là một liều thuốc bổ.
Nhưng tin đồn rồi cũng qua đi. Sau này nghe nói do chính VC tung ra nhằm làm cho chúng tôi nuôi hy vọng mà sống, không nổi loạn chống đối. Thế rồi, tù cải tạo, kẻ lên Molotova ra Bắc, người ở lại tiếp tục sống bằng giấc mơ tự vẽ cho mình trong tâm trạng tuyệt vọng.
Đùng một cái, vào năm 1988 hay 1989 gì đó, đài VOA và BBC phát đi bản tin nóng hổi vừa thổi vừa nghe: chính phủ Reagan và VC đã đạt thỏa hiệp cho sĩ quan tù cải tạo QLVNCH được sang Mỹ định cư theo chương trình HO, viết tắt của hai chữ Humanitarian Operation.
Chương trình HO là một giải pháp tuyệt hảo của chính phủ và người dân Mỹ dành cho những sĩ quan đã bị bỏ lại trận địa một cách tức tưởi. Các sĩ quan đi theo HO bay … một lèo đến Mỹ, không tốn một cây vàng, không đổ một giọt mồ hôi và không phải sống trong nỗi sợ hãi phập phòng một sống chín chết nếu vượt biên. Bắt đầu từ thập niên 1990 trở đi, các đợt HO lần lượt sang Mỹ đã đem đến một không khí sôi động và lạc quan cho thủ đô tinh thần của người Việt tỵ nạn tại Quận Cam. Nhưng đồng thời cũng gây ra những mẩu chuyện cười ra nước mắt, xin được miễn kể ra đây. Nước Mỹ đã lấy lại được niềm tin và cảm phục của người dân miền Nam VN và các sĩ quan QLVNCH. Thật là tuyệt hảo, tuyệt hảo! Mỹ chơi quá đẹp!
Cú chơi đẹp tuyệt vời thứ hai
Cú chơi đẹp này của nước Mỹ xảy cho chính bản thân tôi.
Năm 2009, bà chị tôi ở Việt Nam sang Mỹ du lịch và thăm con trai đang cư ngụ tại Quận Cam. Chúng tôi tổ chức một chuyến đi San Diego thăm gia đình đứa cháu gái. Chiếc xe van Odyssey của tôi chở 8 người lớn kể ra khá nặng. Con trai bà chị tôi cầm tay lái.
8 giờ sáng, chúng tôi phóng bon bon trên xa lộ 5 xuôi nam hướng về San Diego. Đang ngon trớn giữa ranh giới hai thành phố Mission Viejo và San Clemente, đột nhiên nghe cái bốp, chiếc xe van chao đảo. Cháu tôi giảm tốc độ và tìm cách sang lane vào lề phải. Chiếc van nghiêng hẳn sang bên phải một khi đã đậu yên một chỗ bên lề xa lộ. Tôi liền xuống xe thấy bánh sau bên phải . . . xẹp lép.
Tôi còn đang phân vân . . . không biết phải đối phó làm sao trong tình huống này. Đang ngẩn người trước cảnh một bên xe chạy như nước, một bên chỉ có đất và sỏi, tôi quay lại phía sau xe thì thấy ngay một chiếc xe cảnh sát đã đậu sẵn chờ. Người cảnh sát không ra khỏi xe. Tôi tiến lại gần và hỏi sao ông biết xe tôi bị nổ bánh mà chạy đến nhanh thế. Viên cảnh sát không trả lời câu hỏi của tôi, chỉ nói sẽ có xe đến thay bánh xe cho tôi . . . và hoàn toàn free. “Oh My God!! You are not kidding?” Tôi thốt lên trong nỗi ngạc nhiên cực độ. Gần 30 năm ở Mỹ, tôi chưa từng nghe có một chuyện như vậy chứ đừng nói là thấy tận mắt. Thế mà bây giờ tôi chẳng những nghe mà còn thấy nữa. Bà chị tôi ở Việt Nam qua, nghe tôi quả quyết như thế, chỉ biết há hốc mồm và lắc đầu. Tôi thốt lên “unbelievable”! Người cảnh sát trả lời “You bet!”
Và chúng tôi không phải chờ lâu. Khoảng năm hay sáu phút sau, một xe chuyên đi thay bánh dọc đường chạy đến và tiến hành công việc. Chiếc xe cảnh sát vẫn đậu tại chỗ. Viên cảnh sát vẫn ngồi trong xe.
Sau khi người thợ làm xong công việc thay bánh xe và chỉ đường cho chúng tôi đến tiệm bán vỏ xe ở thành phố mà chúng tôi chỉ nghe tên chưa một lần ghé qua. Chúng tôi nói lời cám ơn viên cảnh sát và người thợ. Chờ cho đến khi chiếc van lăn bánh an toàn, xe cảnh sát mới chạy vào xa lộ. Từ đầu đến cuối…viên cảnh sát chỉ ngồi trong xe. Tuyệt đối không ra ngoài. Và chiếc xe cảnh sát để đèn xanh đỏ nhấp nháy trong suốt thời gian này. Và chúng tôi đã tìm đường đến một tiệm Cosco thay cả 4 vỏ xe. Trước sau chỉ mất một tiếng đồng hồ.
Làm sao mà cảnh sát biết xe tôi bị nổ bánh xe mà chạy đến kịp thời? Đó là một câu hỏi mà chúng tôi chưa tìm ra câu trả lời ngay lúc đó.
Hai tiếng đồng sau, chúng tôi đến nhà người cháu và kể tai nạn vừa qua và nêu thắc mắc trên.
Người cháu rể cho biết, một số thành phố Mỹ, rất có thể trong đó có Sở Cảnh Sát thành phố San Clemente, lắp hệ thống rada vệ tinh định vị dọc theo xa lộ. Một khi có tai nạn hay trục trặc bánh xe xẹp lốp như xe của tôi, vệ tinh khám phá ra và sẽ báo về đài chỉ huy. Nhận được tín hiệu, đài chỉ huy sẽ báo cho xe cảnh sát đang đi tuần trong vùng để chạy đến cứu bồ kịp thời. Đồng thời gọi cho tiệm thay bánh xe lên đường. Nghe có lý!
Nhưng không phải thành phố nào cũng có hệ thống này. Có hay không tùy theo ngân sách.
Chẵng những chúng tôi an toàn đi đến nơi về đến chốn mà không tốn một xu tiền công thay bánh xe. Giả như có tốn 100 đô la cũng còn rẻ chán.
Thật là tuyệt vời nước Mỹ của tôi.
HS Nguyễn Ngọc Oánh